Tuesday, March 10, 2020

Chuyến đi không tên

H21.
Đáng lẽ tôi không muốn nhắc lại các vết thương lòng đã xảy ra từ lâu, vì khơi lại chỉ làm lòng tôi đau xót, nhức nhối. Nhưng việc không lên tiếng của tôi sẽ làm tôi có lỗi với những người đi trước, với các NT, anh chị em đã nằm xuống cho đất Mẹ VN.
Nhân đây tôi cũng muốn gửi một nén hương để tưởng nhớ đến công ơn dìu dắt, và nâng đỡ tôi trong thời gian đang công tác như cố Đại tá Lê Quang Tung, cố Đại Tá Lam Sơn (Phạm Đình Thứ, 1964), cố Đại tá Trần Văn Hổ (1964-1966).
Nguyễn Văn Tuyết.
Từ thuở còn học sinh tôi có người bạn tên Trần Hiếu Hòa. Ngoài học văn hóa, tôi và bạn tôi còn say mê học võ thuật. Chính vì điểm này, cả hai có cơ hội vào ngành Tình báo rất sớm, mặc dù hoàn cảnh gia đình cũng như tình trạng học vấn không bắt chúng tôi làm như vậy.
Nói đến hai chữ Tình Báo thì đa số hiểu là làm một việc gì đó có tính cách bí mật. Nhưng nếu đi vào chuyên môn, thì đây là một lãnh vực đa dạng, với mỗi cá nhân nhận những nhiệm vụ riêng biệt, từ thấp đến cao, qua mỗi lần thi hành xong một nhiệm vụ rồi trở về hậu cứ. Lần sau khi xuất phát, người đi công tác phải học lại cho phù hợp với thực tế, vì trang thiết bị và vũ khí cho mình và của địch luôn thay đổi theo thời gian. Tôi và Hoà đã tham gia các khóa học đặc biệt về Tình báo. Theo thời gian chúng tôi dần dần trưởng thành qua những lần công tác.
Sau một thời gian công tác, tôi trở về Phòng Hoạt Động của Tổng Thống Phủ (P42) còn Hòa về làm Trưởng Phòng 5 của ông Đỗ Cao Thanh.
Sau ngày 1-11-1963, tôi đã bị gọi lên thẩm vấn điều tra. May mắn thay, tôi đã được Đại tá Ngô Du gửi đi học khoá Trung Cấp Tình Báo vì biết tôi không có những liên hệ nào đặc biệt với chế độ cũ. Năm 1964, tôi được thuyên chuyển về Phòng 6 Bộ Tổng Tham Mưu.
Đến tháng 6-1964, tôi chính thức làm việc tại Phòng 6 của Sở Kỹ Thuật (đổi tên thành Sở Khai Thác Địa Hình) và được lĩnh lương sai biệt. Tôi được lệnh đưa các toán Biệt kích tới Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng. Đầu tháng 11 năm 1964, việc huấn luyện của các toán đã qua giai đoạn 2 và sẽ thực tập Nhảy dù tại Đà Lạt, sau đó theo học khóa HT 98 tại trường Truyền Tin Vũng Tàu. (Chỉ huy trưởng là Thiếu Tá Hoàng Hữu Gia.) Khi đến đây, mọi thủ tục giữ bí mật được áp dụng, các Học viên không được nói sự thật về đơn vị mình đang phục vụ để bảo toàn an ninh. Để giống mọi người, các học viên mặc Quân phục kaki vàng, và Quân phục tác chiến giống TQLC.
Mới vào Quân trường nên một số người ngoài đơn vị cũng đến làm quen và hỏi thăm vì tò mò muốn tìm hiểu. Một số khác không quan tâm. Nhưng lại có người không tin, gây sự cho là khóa sinh mới đã ăn cấp kiểu Quân phục của họ và gây lộn. Thiếu tá Hoàng Hữu Gia đã phải đưa đại đội ứng trực xuống để ổn định tình hình. Vì người bị ăn cắp đồ là Thiếu úy Kim, Khóa 11 TĐ, là cháu Trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ, nên Đại tá Lê Nguyên Khang, Tư Lệnh TQLC, phải ra tận nơi để giải quyết. Sau đó Thiếu tá Gia đã bị đổi đi và Thiếu tá Vũ Duy Tạo về thay thế làm Chỉ huy trưởng trường Truyền Tin.
Vào khoảng giữa năm 1965, Trần Hiếu Hòa giới thiệu với tôi Trung úy Bình (tức Nguyễn Hữu Luyện) một Sĩ quan mới về nhậm chức tại đơn vị. Qua bạn Hòa, tôi được biết anh Luyện là người thẳng thắn, có thâm niên Quân đội, và có nhiều kinh nghiệm tác chiến. Anh Hòa và anh Luyện muốn lập các toán xâm nhập miền Bắc. Anh Luyện sẽ là Trưởng Công Tác đầu tiên đi cùng toán. Anh Hoà sẽ lo việc tuyển dụng nhân viên, sắp xếp, tổ chức theo ý của anh Luyện, và được sự chấp thuận của Trung Ương.
Việc tuyển dụng nhân viên không phải lúc nào cũng dễ dàng. Trong khi làm việc, tôi đã phải từ chối một người tên Nghiã vì anh này khai dối là đã đủ 18 tuổi. Hơn nữa, trong nhà đã có mấy anh lớn phục vụ trong Quân đội, và Nghiã là con út đang đi học. Theo luật thì Nghiã không phải bị động viên. Thời gian qua khi đủ 18 tuổi, anh này lại làm đơn xin gia nhập một lần nữa. Về tình tôi đã xiêu lòng, nhưng về lý buộc tôi phải hỏi cha mẹ anh có đồng ý hay không ? Một khi tin không lành đến nhà thì gia đình họ sẽ có đủ lý do để bắt lỗi tôi. Vả lại, tôi cũng đã bị phiền toái nhiều lần vì cha mẹ vợ con người bị tử nạn đến ăn vạ, bắt đền. Khi được biết Nghiã đã nói dối cha mẹ là đi Cảnh sát, tôi đã từ chối thẳng.
Sau một thời gian, tôi lại nhận được đơn tình nguyện của Nghiã lần thứ ba. Lần này, Nghiã đã thuyết phục được bố mẹ của mình. Tôi đã nhận được tờ giấy "ưng thuận cho con đi lính" với chữ ký của người mẹ. Khi tôi dến để xác minh lần chót, cha mẹ Nghiã có một yêu cầu nhờ tôi giúp đỡ. Đó là tôi ở đâu thì Nghiã ở đó. Trong khi tôi còn đang chần chờ thì Nghiã đã đạp chân tôi nhiều lần ở dưới gậm bàn mong tôi chấp thuận. Tôi đã biết có nhiều người trẻ tuổi, chỉ sau một thời gian, đã nản chí không muốn phục vụ nữa. Chính vì suy nghĩ như vậy nên tôi tạm thời chấp thuận.
Đúng lúc này, anh Luyện đang tuyển dụng nhân viên. Tôi đã chuyển hết hồ sơ cho anh Luyện với một điều kiện tiên quyết là Nghiã không được xa tôi. Tôi đã sắp xếp cho Nghiã học Truyền Tin để sau này có thể hoán chuyển dễ hơn.
Tháng 10-1965, khi việc tuyển dụng tạm xong, tôi được chuyển đến Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng, Long Thành, Biên Hòa cùng anh Hòa và anh Luyện. Tại đây, khoá huấn luyện được đặt tên là Bắc Bình. (Muốn giống đội quân Tây Sơn của Nguyễn Huệ.) Đại đa số tinh thần các học viên rất cao, nhưng kinh nghiệm chưa có. Để thuận tiện công tác trên lãnh thổ Lào, anh Luyện có nhờ tôi liên lạc với anh Nguyễn Mạnh Hải, một Việt Kiều từ Thái Lan về nước, đang là một Hạ sĩ quan sửa chữa vũ khí binh đoàn thuộc Trung Đoàn 12, Sư Đoàn 7. Anh Luyện đã sắp xếp tôi, Hòa, và Hải tại ban chỉ huy của toán. Mỗi toán được chia thành 4 toán nhỏ độc lập, với hơn chục người mỗi toán. Nguyễn Ngọc Lân làm Trưởng Toán A1, Hà Huy Tuấn, Trưởng Toán A2, Mai Nhuệ Anh, Trưởng Toán B1, Hoàng Đình Khả, Trưởng Toán B2.
Các khóa sinh được học chuyên môn, từ vũ khí, nhảy dù, phá hoại, chất nổ, tình báo, tâm lý chiến, bản đồ, địa bàn, đến truyền tin... Giữ lời hứa với gia đình Nghiã, tôi đã lo cho anh đủ điều, như đưa tiền cho anh ta chi tiêu lặt vặt, trong khi tôi đã giữ tiền lương tháng của Nghiã. Sau vài ba tháng khi Nghiã được đi phép, tôi đã đưa lại để anh mang về cho gia đình. Một người khác, cũng đã nhờ tôi giữ hộ lương của mình, giống như Nghiã.
Một thời gian sau, Trần Hiếu Hòa được cử đi tuyển dụng toán độc lập khác.
Tháng 5-1966, các toán Biệt kích thực tập xâm nhập trên đất địch, nhảy dù tại Đà Lạt, và được đánh giá về khả năng hoạt động độc lập. Sau khi toán được rút về trung tâm và nghỉ phép, họ đã được chuyển lên Kontum và Khâm Đức để thực tập bằng trực thăng bán phản lực. Cuối tháng 6-1966, tôi được lệnh về trình diện Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, để nhận nhiệm vụ mới. Tôi đã xin hoãn lại một thời hạn với lý do sắp xếp tình cảm với anh em, sao cho tình lý được vẹn toàn. Chính vì lẽ đó, tôi trở lại TTHL Quyết Thắng làm việc. Nơi đây, các toán đã được huấn luyện đổ bộ bằng trực thăng và thám sát đường mòn HCM. Đến trung tuần tháng 6, các toàn chuyển ra trại 6 Mỹ Khê, Đà Nẵng sẵn sàng thi hành nhiệm vụ.
Anh Luyện dự trù sẽ dẫn toán đi đợt 1. Đại úy Nguyễn Văn Vinh vốn là một trưởng công tác dày dạn kinh nghiệm chịu trách nhiệm lương bổng. Đa số thành viên trong toán 2 hăng say nhưng thiếu kinh nghiệm nên anh Luyên đã yêu cầu tôi ở lại toán này để quyết định việc xâm nhập cùng 3 toán trưởng còn lại. Chuẩn úy Đặng Đình Thúy sẽ cùng đi nhưng đến vùng công tác sẽ sắp xếp để làm cố vấn bản đồ, địa bàn cho toán B2 của anh Hoàng Đình Khả. Trong lúc chờ lên đường tại bãi Mỹ Khê, Đà Nẵng, anh Hoàng Đình Mỹ gặp tôi xin ở lại để cùng đi với toán 2 của tôi. Tôi đã thẳng thắn từ chối vì đây thuộc thẩm quyền của anh Luyện, trưởng toán.
Sau khi chia tay, toán HECTOR 1 lên đường xâm nhập vào vùng công tác vào hạ tuần tháng 6-1966. Khi nhận được công điện của Bản Văn số I có đoạn “MẶT TRỜI MỌC”, tôi được ông Vinh cho biết toán đã được thả an toàn. Trong lúc chờ lệnh lên đường, toán 2 vẫn tiếp tục thực tập tại bãi biển Mỹ Khê.
Ông Phan Trọng Sinh, đại diện Sở Liên Lạc tại Quân Đoàn I, đã đến gặp chúng tôi, yêu cầu cử một toán Biệt kích xuống Thường Đức, vì Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm không muốn xử dụng một đơn vị Lôi Hổ cho công tác đặc biệt tại vùng này. Theo nguyên tắc, khi một toán được cử đi công tác, bắt buộc phải có cố vấn người Mỹ, cùng các máy truyền tin, đi theo để sẵn sàng yểm trợ. Trung tá Cố Vấn Mỹ Simon đã không đồng ý nên kế hoạch này không thể thực hiện. Trong khi nói chuyện, ông Sinh đã hỏi tôi có đồng ý thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này ?
Biến động Phật Giáo Miền Trung đã ảnh hưởng nhiều đến tình hình an ninh QK I, cũng như hạn chế phần nào hoạt động Quân sự của ta tại đây. QĐ I muốn giải tỏa vùng Thường Đức vẫn còn bị VC chiếm đóng, nhưng Quân Báo của Sư đoàn 2 và QĐ I chưa sẵn sàng thực hiện. Chưa kể, nếu tiến hành ngay thì các đơn vị Quân Báo cũng không dễ gì hoàn thành nhiệm vụ, và khó tránh khỏi thương vong. Cũng cần thêm, Thường Đức là yết hầu của Đà Nẵng. Chừng nào Thường Đức còn bị VC chiếm đóng thì chừng đó tình hình an ninh của Đà Nẵng, nói riêng và QĐ I còn gặp nhiều nguy hiểm. Đánh giá được nhiệm vụ quan trọng này nên tôi đã đồng ý dùng toán của tôi nhảy vào khu vực do Tướng Lãm yêu cầu. Dĩ nhiên, chúng tôi phải được Trung Ương chấp thuận.
Sau khi nhận lời, tôi đã vội bay vào Sài Gòn để trình bày cùng ‘thượng cấp” về đề nghị của Tướng Lãm. Tuy nhiên, tôi lại nhận được tin không vui. Người bạn thân của tôi, Trần Hiếu Hoà, đang bị giam tại “cải hối thất” thuộc Bộ TTM vì vi phạm kỷ luật. Sau khi tìm hiểu lý do vi phạm của bạn tôi tại Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng, tôi quay lại Bộ TTM vào gặp các bạn tôi đang ở trong tù, gồm có : Trần Hiếu Hòa -Trưởng Toán T, Phạm Bá Toán - Trưởng toán KERN B, Nguyễn Văn Thái A - Toán KERN B Nguyễn Văn Sáng - Lôi Hổ - Sở Liên Lạc - Nguyễn Văn Tân (Tân Bé).
Khi trình diện “thượng cấp”, ông đã yêu cầu tôi sắp xếp công việc, rồi về nhận nhiệm vụ mới. Tôi đã xin ông cho tôi hoãn một thời gian nữa. Tôi cũng đã trình bày trường hợp vi phạm của bạn tôi và xin ông nhẹ tay.
Ông Vinh sau đó cho tôi biết, theo ý “thượng cấp”, Hoà sẽ thay tôi ở Đà Nẵng chiụ trách nhiệm toán HECTOR II, nếu không thì phải có sự đồng ý của cấp chỉ huy TTHL Quyết Thắng. Được ông Vinh phân công, tôi sẽ gặp ông Nông A Pan (Tức Võ Văn Đang), một thẩm quyền cũ của tôi tại Lào và Đà Nặng. Tôi đã cố thuyết phục ông, thậm chí còn lấy cá nhân tôi để bảo đảm cho lời nói. Sau khoảng một tiếng đồng hồ sau, tôi và ông Vinh đã gặp nhau. Ông hỏi :
- Kết quả thế nào ?
Tôi cười và nói ngay :
- Bây giờ chúng ta phải quay lại TTM.
Thú thật khi đón Hòa ra khỏi trại tù, tôi còn gặp các anh em còn lại chưa được thả. Họ cũng có ý định nhờ tôi giúp. Tôi biết là khả năng có hạn, nên tôi cảm thấy buồn khi không trả lời họ.
Khi định đáp máy bay đi Đà Nẵng thì được ông Giám Đốc hỏi chuyện về lời hứa với Thiếu tướng Lãm, Tư Lệnh Quân Đoàn I và về việc Trung tướng Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, gọi tôi về trình diện. Tôi đã thuyết trình về kế hoạch nhảy vào Thường Đức với ông. Tôi trình bày kế hoạch tuyển người, phương tiện máy bay để thả các toán xuống sát biên giới Lào - Việt, để toán không dùng máy liên lạc dễ bị lộ mà chỉ dùng máy định vị, thời gian xâm nhập và di chuyển khi hoàn tất nhiệm vụ, việc không yểm cho 3 bãi đất trống ở Thường Đức... Tôi cũng xin ông cho mấy anh em phạm lỗi được đoái công chuộc tội bằnh cách cho họ tham gia vào chiến dịch này.
“Thượng cấp” đã đồng ý thả 4 người, vốn đã qua huấn luyện tại trại Quyết Thắng là các anh Toán, A, Sáng, và Tân. (Như đã đề cập ở trên.)
Tôi đã ghé Hoà Cấm, lấy thêm 2 người H ‘Mông và 2 người Vân Kiều trước đây đã sống ở Thường Đức. Cả toán Biệt Kích, gồm 8 người, đã thực tập, thao dợt tại một sân bay cũ của TQLC Mỹ, và thực tập đổ bộ bằng trực thăng cả tuần lễ. Sau khi thuần thục, toán đã được thả xuống biên giới Việt - Lào vào đầu tháng 7-1966. Với vỏ bọc là người Thượng, mang theo đặc sản của núi rừng để đổi lấy muối, họ đã nói như người Thượng, mặc quần áo rách rưới, đeo những “gùi” của người Thượng với phiá trên là cá khô, thịt rừng khô nhưng dưới là máy truyền tin và súng đạn. (Cũng cần nói rõ, người Thượng ở đây đã có cuộc sống vô cùng khó khăn và nghèo khó vì chiến tranh.)
Theo dõi máy định vị, tôi biết toán đã rời bãi đáp, đang len lỏi từ sát biên giới đi dần vào vùng Thường Đức, đang thu nhặt tin tức tình báo và đánh dấu vị trí địch quân. Trong khi đó, pháo binh của TQLC Mỹ và máy bay ném bom sẵn sàng can thiệp khi cần. Khi máy định vị bị tắt bất ngờ thì cả toán sẽ là những con chốt thí. Sau 2 tuần, toán đã ra được Bãi Số 2 và dùng PCR 64 liên lạc. Tại hậu cứ Đà Nẵng, trực thăng và máy bay yểm trợ đã sẵn sàng cất cánh, bốc về. Sau khi toán vừa rời khỏi bãi đáp thì hoả lực của Không Quân và Pháo Binh đã nhịp nhàng tác xạ vào các vị trí mà máy định vị đang liên tục phát sóng. Các đơn vị Quân đội đang án binh chờ lệnh cùng tiến vào đánh đuổi VC ra nơi đây, ngay lập tức. QĐ I đã giải tỏa Thường Đức ngay ngày hôm ấy.
Toán đang nghỉ ngơi khoảng 3 ngày tại Đà Nẵng thì được Thiếu Tướng Lãm, đến tận nơi, ân thưởng huy chương cho những nguời có công. Từ đấy, dù ông cùng đoàn tuỳ tùng đi đâu, vào bất cứ lúc nào, khi thấy anh em Biệt Kích, ông đều cho xe dừng lại. Ông gọi thân mật họ là “bọn chết sống lại”, và cho ngồi chung xe quá giang. Đó là tình cảm ông dành cho anh em Biệt Kích. Chúng tôi không bao giờ quên được tình cảm của NT đã dành cho chúng tôi. Trong toán vừa thực hiện xong nhiệm vụ, 4 người đã ở QĐ I được ở lại Đà Nẵng. Bốn người đã phạm lỗi trước đó thì được tha cho về phục vụ các toán của Mỹ tại Vùng III Chiến Thuật.
Hạ tuần tháng 7 năm 1966, Trung tá Nguyễn Khắc Bình và Trung tá Hồ Văn Kỳ Thoại đã ra thanh tra và chuyển giao một số cơ sở đường biển cho đơn vị khác. Nhân dịp này, các NT muốn biết các nhận xét về hiệu quả hoạt động của các toàn và kết quả chương trình huấn luyện tại Trung Tâm Quyết Thắng. Tôi đã thẳng thắn trả lời :
- Tinh thần các khoá sinh thì cao nhưng kinh nghiệm di chuyển trong rừng núi khá yếu, thể chất không đủ dẻo dai, dễ bị đối phương theo dõi.
- Tại sao ? Ông hỏi.
- Rèn luyện thể chất ở trại Quyết Thắng kém hơn ở Nha Trang hay Đà Nẵng. Vì ở đây, chạy trên cát nên sức khoẻ các học viên rất dẻo dai và nhanh nhẹn khi di chuyển trong rừng.
Trung tá Bình gật gù tỏ vẻ đồng ý. Một thời gian sau, ông đã chuyển một số toán ra Đà Nẵng.
Cuối tháng 7-1966, qua các công điện từ vùng hoạt động của H1 (tức Nguyễn Hữu Luyện), tôi biết toán HECTOR 2 còn phải chờ một thời gian nữa trước khi được cử đi công tác. Tôi đã xin thượng cấp cho cả toán 2 về Saigon nghỉ phép và chờ lệnh xuất phát để họ yên tâm, cũng như để thân nhân họ không đặt câu hỏi là người nhà của họ ở đâu.
Tháng 8-1966, trên yêu cầu, sau khi nghỉ phép, toán 2 phải ở trong khu vực cấm chờ đi công tác. Vì thế cả toán đã đáp chuyến máy bay C123 từ Đà Nẵng về Saigon. Trong chuyến máy bay này có Trung tá Nguyễn Khắc Bình và gia đình cùng đi. Trung tá Bình chuyển về Saigon để nhậm chức Tham Mưu Trưởng Sở Kỹ Thuật lúc bấy giờ.
Toán 2 được đưa về “khu vực cấm” tại TTHL Quyết Thắng. Khi được đi phép, tôi đã cùng Nghiã về thăm cha mẹ của anh. Riêng tôi còn nhiều việc phải giải quyết, nhất là tình cảm của tôi với người tôi yêu tên Mai Thanh.
Nàng mới tốt nghiệp đại học Sư Phạm và vừa được bổ nhiệm đi Mộc Hóa, một địa phương sát biên giới với Kampuchia. Trăn trở với nỗi lòng riêng, tôi đã cùng nàng đi xem phim tại rạp Rex nhưng thực tâm tôi chẳng biết phim đang chiếu gì. Tôi đang trăn trở nhiều điều nhưng không thể nói thành lời. Tôi chỉ muốn nói cho nàng hiểu rõ tương lai bấp bênh của một người lính như tôi. Tôi đã quen nàng từ khi còn học trường trung học Trưng Vương, từ nhiều năm, trước khi nàng vào Đại học. Trong buổi gặp gỡ đó, nàng đã nói với tôi rất nhiều chuyện : về việc nàng đang dạy học, về việc tôi đang làm, và về tương lai của hai người... Nhưng tôi là người theo đạo Thiên Chúa không dám nói dối nên tôi chỉ là ậm ừ cho qua. Tôi doán là nàng đã ít nhiều hiểu lầm tình cảm của tôi dành cho nàng, nhưng tôi không biết làm sao cho phải. Cuối cùng, tôi chỉ nói với nàng,
- Sau này, nếu anh lấy vợ, người đầu tiên anh chọn sẽ làm em. Bây giờ đất nước đang thời khói lửa, anh còn có nhiệm vụ phải làm nên tạm xa em. Nếu không có gì thay đổi, cuối năm anh sẽ về cùng em đi dự lễ Giáng Sinh.
Lúc chia tay, tôi thoáng thấy thái độ cam phận của nàng cùng nét mặt gượng vui không đủ che dấu nỗi buồn ẩn dấu bên trong. Khi nhớ đến bài hát “Biết Trả Lời Sao ?” của Duy Khánh, tôi mới thấy vô cùng thấm thiá. Sự mâu thuẫn giữa tình cảm tha thiết của tôi đối với nàng và một tương lai vô định, không rõ tương lai của người lính Biệt Kích khiến tôi gần như tuyệt vọng. Tôi đã cố dấu nàng qua bề ngoài bình thường, khá lãnh đạm, trong khi lòng tôi đau đớn không nguôi. Làm sao tôi có thể cho nàng biết rằng tôi đang mang một trách nhiệm lớn lao mà sự thành bại, vốn hung nhiều lành ít, chỉ tùy thuộc một phần vào sức chịu đựng của con người ? Nỗi trăn trở này không phải chỉ mới có khi gặp nàng mà đã nằm sâu trong tiềm thức mà tôi đã dấu chính tôi. Tất cả lời hứa hẹn đều vô nghiã, khi tôi không thể biết rõ tương lai đầy bất trắc của chính mình.
Qua điện thoại với “thượng cấp”, ông Vinh cũng không biết được ý định của tôi sẽ ra sao ? Tôi có trình diện nhiệm sở mới hay không ? Tôi có rời toán 2 hay không ? Vì lời hưá với cha mẹ Nghiã, tôi không đành lòng bỏ Nghiã lại một mình đi công tác mà không có tôi. Đôi lần, tôi đã đặt vấn đề với Nghiã,
- Nếu em muốn trở lại học đường, tôi sẽ cung cấp học phí cho em như lãnh lương hàng tháng tại trại. Hay là em muốn đi đơn vị khác, anh sẽ lo liệu.
Mỗi lần như thế, Nghiã chỉ ậm ừ không chịu trả lời rõ. Tôi cần quyết định về việc chọn lưạ có nên về đơn vị mới hay ở lại đơn vị cũ, nên đã ướm lời hỏi Nghiã,
- Khi anh đi thì em có buồn không ?
- Không buồn. Nghĩa tỏ vẻ tự tin trả lời.
Tôi luôn nghĩ đến cha mẹ Nghĩa tin tưởng gửi gấm cho tôi. Nếu Nghiã có mệnh hệ nào thì tôi làm sao cho ổn thỏa ? Thôi cũng đành, tôi đã làm tròn lời hứa với cha mẹ Nghiã.
Sau kỳ nghỉ phép, toán 2 đã trở lại “Khu vực cấm”, được xây cất riêng biệt với khu trại chính. Khu vực này được 4 bức tường cao ngăn cách rào dây kẽm và một cổng ra vào có Quân Cảnh gác. Trong khu cấm có một hạ sĩ quan ở ngày đêm cùng các toán viên đang chuẩn bị nhảy toán. Trong giai đoạn này, tôi cũng xin lệnh thượng cấp cho Nguyễn Minh Hùng được về lại gia đình vì tình trạng gia cảnh đặc biệt của anh, và cho Nguyễn Ngọc Việt ra làm tại thư viện của trại.
Trong lòng tôi cảm thấy đã dễ chịu vì đã giải quyết được nhiều việc cho nhân viên dưới quyền.
Giờ đây, tôi đã sẵn sàng...
Westminster, ngày 3 tháng 3 năm 2015
Nguyễn Văn Tuyết
H. 21

Phản hồi của một BK Nhảy Bắc MT
Nguyễn Văn Tuyết ...chính là Tống Văn Thái, toán viên của Hector 2, nhảy Bắc và bị bắt tháng 9-1966. Xin post lại 2 ý kiến trên báo Viễn Đông của 2 vị biết rất rõ về ông Tống Văn Thái (TVT). Kẻ hèn này cũng biết ông TVT và có thể nói 90% câu chuyện ông Thái nói đều thuộc về truyện Trinh thám, ảo tưởng rất thích hợp cho phim trường Hollywood, còn 10% đúng đó là: Ông TVT là 1 dân sự được tuyển mộ để nhảy Bắc. Quí vị muốn biết ông TVT nói xạo như thế nào, thì hãy đi hỏi 2 chị Phuơng Hồng Quế và Trang Thanh Lan, chương trình Tiếng Hát Hậu Phương, đài Hồn Việt đã phỏng vấn ĐẠI ÚY LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT TÔNG VĂN THÁI????vào thời gian tháng 1 hoặc 2/2017.. TẠI SAO TIẾNG HÁT HẬU PHƯƠNG PHẢI LẤY XUỐNG (GỠ BỎ) BÀI PHÒNG VẤN ĐÃ POST TRÊN YOUTUBE??? ÔNG THÁI CÓ THỂ NÓI DỐI MỘT SỐ NGƯỜI, NHƯNG KHÔNG THỂ NÓI DỐI VỚI TẤT CẢ MỌI NGƯỜI...SỰ THẬT LÀ CHÍNH NGHĨA. Ý kiến của: Tuấn Đoàn - Ngày: 22-06-2016 Tiêu đề: Bài viết về BK Tống Văn Thái Nội dung: Những dữ kiện trong bài viết sai sự thật, tất cả cấp bậc, chương trình huấn luyện, công tác đều sai sự thật đề nghị tòa soạn nên lấy bài viết xuống, vì hầu như tất cả dữ kiện đều sai, bài viết không có ảnh hưởng tốt cho ông Thái và luôn cả tòa soạn. Tốt nhất là đem bài viết xuống tránh bàn tán không cần thiết. Tuấn Đoàn / Nha Kỹ Thuật Ý kiến của: Moc Tai - Ngày: 28-03-2016 Tiêu đề: Bài nói về BK Tống Van Thái trên Báo Viễn Đông nên cẩn thận hơn. Nội dung: Ý-Kiến : v/v ông Tống văn Thái nổ qúa mạng ! Những gì nhà Báo Băng Huyền nói về ông Tống Văn Thái có lẽ không phải là sự thật vì không ai làm chứng, hay có bằng chứng nào cho việc này... -Nếu qúy vị muốn biết sự thực thì nên hỏi bất cứ anh em Biệt-Kích nào Nhảy Bắc ( Chương Trình Oplan-34) thì sẽ rõ, đặc biệt nên hỏi Cựu Đại-úy Nguyễn Hũu Luyện, người được mệnh danh là "Người Tù Kiệt Xuất ", là Tóan Trưởng của Ông Tống Văn Thái, và Thiếu Úy Đặng Đình Thúy, Tóan phó của ông Tống Văn Thái, còn ông Tống Văn Thái chỉ là Trung Sĩ Truyền Tin dưới quyền trong Tóan mà thôi, việc ông Thái nói dối mình là sinh viên đại-học y-koa, hay có Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương là hòan tòan không có thật ! Việc xem sách lịch sữ nói về nền Đệ Nhất CH ,rồi sau đó tưởng tượng mình là một nhân vật trong đó... đó là biểu hiện của bệnh tâm thần ... -Ông Thái có thể nổ với người ngòai, nhưng không thể dối trá được anh em trong đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt hay Nha Kỹ Thuật , nếu anh em không lên tiếng thì sẽ mang tội đồng lõa và còn nói láo hơn cả VC, làm gỉam uy tín và danh dự của người lính VNCH, và việc ca tụng một việc hòan tòan không có thật thì nhằm mục đích gì. - Hầu hết anh em chĩ biết Tống Văn Thái khi qua Mỹ, không ai biết Tống Văn Thái trước năm 1975, còn anh em Biệt-Kích Nhảy Bắc thì qúa biết Tống Văn Thái là người có biệt tài nói láo , trăm voi không có bát nước sáo... -Đề nghị Báo Viễn Đông nên điều tra kỹ, việc loan báo một việc không thật trên tờ Báo Viễn Đông là việc rất tai hại cho người Việt QG và cho QL VNCH. Lời Thật mất lòng, Cựu BK Nhảy Bắc MT

Monday, March 2, 2020

Cuộc Bãi Nhiệm Tại Westminster Không Phải Là Nỗ Lực Của Cư Dân

Bài Cậy Đăng Không Trả Tiền Số 15.5 –
Luật Sư Nguyễn Quốc Lân
[Đây là bản dịch của lá thư ngõ số 15 mang tựa đề ‘The Recall in Westminster was No Residents’ Effort’ https://www.facebook.com/100000147737230/posts/3241543049193921/ được gởi các bạn bởi vì các cơ quan truyền thông từ chối phổ biến. Xin luân chuyển và chia sẻ trong các liên hệ của các bạn để loan truyền những tin tức chính xác trong cuộc bầu cử tại Westminster.]
Các báo chí Anh Ngữ thường đăng tải rằng các cư dân đã bắt đầu cuộc bãi nhiệm tại Westminster, nhưng tránh né một con voi trước mắt là không nhìn nhận Tỷ Phú Hoàng Kiều với những gì ông ta làm trong cuộc bầu cử. Làm sao mà người ta có thể cho rằng cuộc bãi nhiệm này đến từ các cư dân tại Westminster? Cuộc bãi nhiệm này có thể đã bắt đầu từ một vài người chống đối từ trong số cư dân, nhưng nhanh chóng biến thành một hí trường chính trị mà được tài trợ và đơn thân điều khiển bởi một ông tỷ phú có một chương trình hành động riêng mà hoàn toàn khác biệt từ những cư dân đã từng nói.
Tổ chức Westminster United đã gây quỹ và chi tiêu hơn $5,000, hay ít hơn 1% trong cuộc bãi nhiệm, khi so sánh với ông Tỷ Phú Hoàng Kiều đã đỗ vào hơn 1.1 triệu dollars số tiền riêng của ông ta, hay hơn 99% trong cuộc tranh cử. Ông ta là ai? Ông ta là một ông già trên 80 tuổi mang mặc cảm xáo trộn về tự cao tự đại mà chưa từng sống hay có liên hệ thương mại nào đến Westminster. Ông ta đã xây dựng được cơ ngơi của ông ta do việc làm ăn tại Trung Cộng và Việt Nam. Ông Hoàng Kiều rất thích thú khi tự phong cho ông ta tước hiệu “Tổng Tư Lệnh” của cuộc vận động bãi nhiệm tại Westminster và chính ông ta đã biên soạn nội dung và trả tiền cho hầu hết mọi quảng cáo và nỗ lực thâu thập chữ ký.
Trong suốt nỗ lực thâu thập chữ ký kéo dài hơn bốn tháng, ông Hoàng Kiều và nhóm vận động bãi nhiệm chỉ thâu thập đủ 20% chữ ký của cử tri để hội đủ điều kiện tổ chức cuộc bầu cử bãi nhiệm, trong khi buộc cư dân của Thành Phố Westminster phải hứng chịu gần một nửa triệu dollars for cuộc phiêu lưu chính trị sai lạc này. Số 80% cư dân kia không được nộp chữ ký để phản ảnh sự chống đối trong cùng thời gian.
Như đã được nhiều cư dân khai báo trong bản khai hữu thệ nộp cho Phòng Biện Lý Quận Cam, ông Hoàng Kiều đã trả tiền cho mỗi chữ ký thâu được, thường là dưới sự giả dối như để giảm tiền thuê nhà, để đăng ký ghi danh bầu cử, để hỗ trợ ông thị trưởng, hay ngay cả chống đối cuộc bãi nhiệm, hay che dấu ngay cả mục đích của cuộc bãi nhiệm. Những người thâu chữ ký này, nhiều người được trả tiền theo số chữ ký thâu được, cũng đến gõ cửa nhà các cư dân và xử dụng những phương thức giả dối tương tự. Phòng Biện Lý Quận Cam và Hội Đồng Kiểm Soát Bầu Cử hiện nay đang điều tra nhiều vi phạm khác nhau trong chiến thuật thâu thập chữ ký vì có thể vi phạm luật bầu cử.
Ông Hoàng Kiều, người tự xưng là Tổng Tư Lệnh, còn cho rượu miễn phí, khám bệnh giả vờ hay nhiều quà cáp khác như thuốc bổ hay vé xem văn nghệ từ ông ta để khuyến dụ các cư dân Westminster ký vào những mẫu chữ ký này. Những thủ thuật thấp hèn này đã vi phạm trắng trợn luật bầu cử tại California mà đã được báo cáo đến các cơ quan có thẩm quyền về bầu cử.
Trong suốt chiến dịch thâu thập chữ ký kéo dài bốn tháng, ông Hoàng Kiều đã phát động một chiến dịch quảng cáo kỳ lạ và chia rẽ nhất tại Quận Cam, đặc biệt là trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Ông Tổng Tư Lệnh tự phong của chiến dịch bãi nhiệm đã thực hiện các chương trình hội luận kéo dài hàng giờ đồng hồ trên một số đài truyền hình Việt Ngữ và mạng xã hội để tấn công các nghị viên tại Westminster và các vị dân cử gốc Việt khác với những ngôn từ nham nhỡ và thô lỗ nhất và không thích hợp đối với một ông già 80 tuổi đã có con cái đã trưởng thành. 
 
Trong các chương trình tivi tự trả tiền, ông Hoàng Kiều có lúc mặc một bộ đồ hoàng đế thời thế kỷ thứ 18 để trắng trợn đe doạ “thiến”, “cắt lưỡi”, và “nhỗ răng” bất cứ ai dám lên tiếng chống lại ông ta, đặc biệt là đối với nhiều vị dân cử gốc Việt mà được gọi là “thái giám.” Trong một chương trình tivi, trong bộ trang phục hoàng đế, ông Hoàng Kiều đã ve vẫy chiếc cưa máy điện đang nỗ máy để tái xác nhận thông điệp nhắm vào các đối thủ của ông ta, cho dù có thật hay tưởng tượng. Trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt, hành động của ông Hoàng Kiều đã gây ra sự cực lực lên án và mỉa mai chống lại ông ta và một vài người hỗ trợ được thuê mướn đã cỗ võ ông ta để hành động như vậy.
Ông Hoàng Kiều cũng tỏ ra hoảng sợ đến độ đã thành lập và khoe khoan bộ hồ sơ của khoảng 1,500 người chống đối trên toàn Hoa Kỳ mà đã phê bình hay chọc quê ông ta trên các mạng xã hội hay trên báo chí và ngay cả trình chiếu “danh sách kẻ thù” trên chương trình tivi Việt Ngữ hàng tuần. Phương án chính cho những đe doạ pháp lý và đơn kiện thể hiện rõ ràng khi ông Hoàng Kiều dọa làm đơn kiện bất cứ ai mà đã phê bình không tốt đẹp về ông ta hay chỉ là nhắc đến ông ta và xử dụng những hình tượng giống ông ta mà không được cho phép. Nhiều người thấy ông Hoàng Kiều không khác gì một ông già chuyên bắt nạt người khác qua việc thuê mướn một mớ luật sư ngang tàn để đi dọa những người dám phát biểu hay chỉ là tỏ bày một quan điểm không tốt về ông ta. Hành động của ông Hoàng Kiều trong cuộc bãi nhiệm này là bất bình thường và không xứng đáng với truyền thống người Mỹ. Lối hành xử cá biệt này là ứng dụng một hình thức khủng bố luật pháp qua sự đe doạ lớn tiếng và liên tục nhằm chống lại các đối thủ và reo rắc sự sợ hãi trong những “đối tượng” qua đơn kiện. Tuy nhiên, những người hỗ trợ bãi nhiệm vẫn còn mang ơn với ông ta và hy vọng rằng ông ta sẽ tiếp tục là như vậy để hỗ trợ mục tiêu của họ.
Bây giờ, ông Hoàng Kiều lại muốn đưa thành phố Westminster vào một kỷ nguyên mới của sự lịch sự - với những thành viên của Westminster United theo sau, cùng với một đợt chính trị gia và ứng cử viên được chọn lựa bởi ông ta. Trong cuộc bầu cử bãi nhiệm sắp tới, cư dân tại Westminster sẽ có cơ hội để trả lời cho cuộc bãi nhiệm vô cớ này, từ chối ảnh hưởng từ bên ngoài và số tiền đen tối, và nhìn nhận đa số trên hội đồng thành phố để mà thành phố có thể tiếp tục tiến tới như là một “Thành Phố Trên Toàn Nước Mỹ.”
Luật Sư Nguyễn Quốc Lân

Tuesday, November 12, 2019

Vì sao báo Nhân Dân đăng bài Hoàng Duy Hùng viết? Nguyễn Quang Duy

Có bạn đọc thắc mắc luật sư Hoàng Duy Hùng từng nổi tiếng chống cộng, ông từng là đảng viên đảng Đại Việt Cách Mạng và là chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia ở Houston, vậy vì sao báo Nhân Dân ngày 29/10/2019 cho đăng bài viết “Một góc nhìn về tổ chức chính trị của người Việt ở hải ngoại”?
Ông nổi tiếng chống cộng là nhờ năm 1992 về nước bị bắt và bị kết án 15 tháng tù. Đến năm 2001, ông lại về nước với ý định đặt bom tại Sài Gòn nhưng không thành phải trốn sang Thái Lan.
Ông càng “nổi tiếng” khi chuyển sang hoạt động chính trị Mỹ trở thành nghị viên thành phố Houston. Tháng 12/2012, ông đại diện thành phố Houston tiếp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn. Sang đến tháng 3/2013 ông hướng dẫn một phái đoàn nghị viên thành phố Houston thăm Việt Nam.
Ông nhiều lần được báo chí và truyền hình cộng sản ca ngợi như một khuôn mặt chống cộng nay thay đổi lập trường.
Trên diễn đàn PhobolsaTV (trước khi bài viết được đăng) ông Hùng công khai tuyên bố ông cộng tác với báo Nhân Dân và cộng tác với nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội.

Nội dung bài viết
Ông Hùng chỉ trích đảng Đại Việt Cách Mạng xây dựng trên quan niệm “lãnh tụ chế”, đảng Việt Tân sống nhờ tiền quyên góp và kinh doanh giỏi, ông Nguyễn Hữu Chánh đảng Dân Tộc là “bịp”, ông Đào Minh Quân là “phịa” lập “chính phủ phường chèo” và các “chính phủ” mọc ra như nấm… bài viết đi đến kết luận:
“Chuyện đất nước là chuyện hệ trọng, phải cân nhắc kỹ lưỡng, và không phải là chuyện đùa, hoặc vô tổ chức.
“Người Việt ở nước ngoài có quá nhiều đảng phái, tổ chức, hội đoàn, chính phủ, nhóm, không ai phục ai, ai cũng muốn làm “lãnh chúa trong giang san CÁI TÔI” đầy kịch tính của họ, mà họ còn muốn mang cái quan niệm này về áp dụng cho đất nước, thì đó là mầm họa loạn lạc của dân tộc đưa đến mất nước.
“Sự loạn lạc đó đã và đang được chứng minh qua hoạt động chính trị của một số người trong các cộng đồng Việt Nam trên thế giới, không có quyền, không có tài chính, chỗ nào cũng phân hóa chia năm xẻ bảy, phe này “choảng” phe kia hằng ngày.
“Chỗ nào có chút thực quyền và lợi ích như hội đồng thành phố thì nạn chụp mũ, phân hóa như đang xảy ra ở Westminster, làm ô nhục cộng đồng gốc người Việt.
“Đa đảng dân chủ kiểu này mang về áp dụng cho Việt Nam thì đất nước sẽ loạn, nước ngoài sẽ lợi dụng phân hóa, nguy cơ mất nước không còn là giả thuyết.
“Vì thế tôi kêu gọi các bạn trẻ hãy cảnh tỉnh cao độ trước cảnh đa đảng, dân chủ loạn cào cào này, vì đó sẽ là sự tiêu vong của dân tộc Việt.”

Lên tiếng về bài viết
Được chương trình Nửa Vòng Trái Đất phỏng vấn ông Nguyễn Hữu Chánh đảng Dân Tộc cho biết ông phải lên tiếng vì bài viết đã xúc phạm đến tổ chức của ông, đến những người đấu tranh và những người hoạt động cộng đồng.
Ông Chánh cho biết đảng Dân Tộc và những người chống cộng đều là những người yêu nước.
Ngược lại, Hoàng Duy Hùng “thiếu đạo đức chính trị” phản lại lời thề trung thành với đảng Đại Việt Cách Mạng, với Chủ Tịch đảng ông Hà Thúc Ký đã đỡ đầu chính trị cho ông Hùng.
Ông Hùng ngây thơ tin rằng “buông đao thành Phật” có khả năng thuyết phục nhà cầm quyền Hà Nội thay đổi.
Ông Hùng phản bội cộng đồng người Việt quốc gia, tuyên truyền cho nhà cầm quyền cộng sản nhằm thực hiện Nghị Quyết 36.

CÁI TÔI của ông Hùng
Trên diễn đàn PhobolsaTV ông Hùng cho biết trước đây ông như con tàu nhỏ “đối đầu” với con tàu lớn cộng sản, còn ngày nay ông thay đổi chiến thuật áp sát con tàu nhỏ của ông vào chiếc tàu lớn để đẩy nó đi đúng hướng.
Ông Hùng không phải là thuyền nhân tỵ nạn, chưa từng lênh đênh trên biển nên không lượng được sức của con tàu nhỏ chỉ cần va nhẹ vào tàu lớn là vỡ tan tành.
Ông Hùng cũng chưa từng sống với cộng sản nên chưa biết trên con tàu cộng sản chỉ vì không làm vừa lòng tầng lớp lãnh đạo nhiều đảng viên bị thanh trừng, đến đời con, đời cháu vẫn còn bị ảnh hưởng. Nhiều người bị thủ tiêu hay bị chết trong tù.
Bởi thế đến nay người dân vẫn tiếp tục rời bỏ con thuyền cộng sản liều chết tìm cách thay đổi cuộc đời, như trường hợp 39 nạn nhân trên chuyến xe tìm đường sang Anh Quốc.
Ông Hùng may mắn từ nhỏ được cha mẹ đưa sang Mỹ một xứ sở tự do muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói miễn là tôn trọng luật pháp Hoa Kỳ.
Nhưng việc ông Hùng công khai cộng tác với báo Nhân Dân và nhà cầm quyền Hà Nội cho thấy giá trị của tự do mà các thế hệ trước đây phải hy sinh bảo vệ nay bị CÁI TÔI của ông Hùng phản bội.

Chính trị người Mỹ…
Ông Hùng cho rằng người Việt hải ngoại khi có chút thực quyền và lợi ích là xảy ra phân hóa như đang xảy ra tại hội đồng thành phố Westminster.
Là người học ngành luật có tham gia chính trị Mỹ, ông Hùng quên rằng chuyện phân hóa đang xẩy ra ngay tại Hạ Viện Liên Bang nơi Tổng thống Trump đang bị tiến hành luận tội và đang xảy ra ở nhiều nơi khác trên đất Mỹ.
Tranh cãi, luận tội và truất phế dân cử là thủ tục dân chủ tuyệt vời được những nhà lập quốc Hoa Kỳ nghĩ ra và ghi vào Hiến Pháp.
Nhờ đó nước Mỹ mới giảm thiểu được tệ nạn lạm quyền, tránh được độc đảng và độc tài xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là tại Việt Nam.

Sinh hoạt người Việt hải ngoại
Sau 30/4/1975, người Việt bỏ nước ra đi, nơi nào có đông người Việt nơi đó có các sinh hoạt cộng đồng dựa trên tinh thần và nguyên tắc bất vụ lợi hay không vì quyền lợi cá nhân.
Các sinh hoạt cộng đồng bao gồm các tổ chức tôn giáo, từ thiện, đồng hương, đồng nghiệp, phụ nữ, cao niên, dạy tiếng Việt, hướng đạo, văn nghệ, võ thuật, văn hóa, yểm trợ đấu tranh… và hầu hết người Việt hải ngoại đều có đóng góp tốt cho các sinh hoạt nói trên.
Đương nhiên chính trị là lý do người Việt phải bỏ nước ra đi, chính nhờ ý thức chính trị luôn gắn liền với sinh hoạt cộng đồng của người Việt hải ngoại, mà hơn 44 năm qua đảng Cộng sản đã tốn bao công sức nhưng vẫn không kiểm soát được người Việt tự do.
Nghị Quyết 36 tự nó chính là một dấu hiệu nhìn nhận sự thất bại của nhà cầm quyền Hà Nội trong việc kiểm soát người Việt hải ngoại.
Chính Nghị Quyết 36 đã cho người Việt tự do thấy rõ hơn Hà Nội luôn rình mò mọi sinh hoạt của họ và vì thế càng phải chống cộng và yểm trợ đấu tranh quốc nội ngày một tích cực hơn.

Cách mạng và chính trị.
Một tỷ lệ rất nhỏ những người sinh hoạt cộng đồng tham gia vào các đảng phái hay tổ chức cách mạng hải ngoại.
Các tổ chức như đảng Đại Việt Cách Mạng, đảng Việt Tân, đảng Dân Tộc, bao gồm đảng Cộng sản đều là các đảng cách mạng.
Bản chất các đảng cách mạng là đối đầu hay đối kháng đến cùng nên đương nhiên đa đảng cách mạng dễ dẫn đến loạn lạc chiến tranh. Lịch sử tranh quyền của đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh điều này..
Bài viết của ông Hùng trên báo Nhân Dân là một bằng chứng mới nhất. Cộng tác với đảng Cộng sản, ông Hùng sẵn sàng tập trung vào góc nhìn tiêu cực nhất của các đảng cách mạng quốc gia để chỉ trích sinh hoạt chính trị của người Việt hải ngoại.
Nếu đảng Cộng sản không thay đổi tiếp tục đối đầu với dân chúng thì cuối cùng số phận của nó cũng như số phận của các đảng Cộng sản ở Nga và Đông Âu.
Và nếu các đảng cách mạng quốc gia không chịu thay đổi để trở thành các đảng chính trị, tiếp tục chủ trương đối đầu tranh giành quyền lực thì cũng sẽ bị lịch sử đào thải.

Bỏ Điều 4 Hiến Pháp Cộng sản
Trên diễn đàn PhobolsaTV ông Hùng cho biết tổ chức Phục Hưng đấu tranh ôn hòa đòi bỏ Điều 4 Hiến Pháp nên trong bài viết khi chưa bị kiểm duyệt ông có ý muốn nói tốt cho tổ chức này nhưng bị báo Nhân Dân cắt bỏ.
Báo Nhân Dân không đăng phần này là vì trong Cương Lĩnh tổ chức Phục Hưng đã nói rõ “…chủ trương tiến hành công cuộc phục hưng đất nước trên căn bản xây dựng Dân Chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên...”  như thế Việt Nam cần có một hiến pháp mới, do một quốc hội lập hiến được toàn dân bầu lên và soạn thảo.
Mục đích của tổ chức Phục Hưng là Việt Nam phải có tự do chính trị, còn đòi bỏ điều 4 Hiến Pháp chỉ là mục tiêu đấu tranh ngắn hạn.
Ông Hùng đã lầm lẫn giữa mục tiêu và mục đích nên mới bị báo Nhân Dân kiểm duyệt đục bỏ phần này.

Kết luận
Mục đích của bài ông Hùng viết là chứng minh đa đảng gây phân hóa chia năm xẻ bảy, phe này “choảng” phe kia, không có lợi gì cho dân tộc, đất nước sẽ loạn, đưa đến việc mất nước.
Bài viết được đăng trên báo Nhân Dân, cơ quan tuyên truyền chính thức của đảng Cộng sản, xưa nay chỉ được cán bộ đảng viên xem.
Người dân nhất là người trẻ không đọc báo Nhân Dân, như thế bài viết không phải để “cảnh tỉnh cao độ” các bạn trẻ “đa đảng là rối loạn” như câu cuối cùng của bài viết.
Mà mục tiêu chính là để Hà Nội răn đe và ngăn cản cán bộ đảng viên đang tự diễn biến, tự chuyển hóa đòi đa nguyên dân chủ dẫn đến sụp đổ thể chế độc đảng cộng sản tại Việt Nam.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
13/11/2019

Monday, November 11, 2019

Hiểm Họa Của Tỷ Phú Hoàng Kiều và Sự Im Lặng Khó Hiểu Luật Sư Nguyễn Quốc Lân

Bài Cậy Đăng Không Trả Tiền Số 9
Đây là loạt bài Cậy Đăng Không Trả Tiền về những vấn đề gây tranh cãi trong cộng đồng. Các báo chí Việt ngữ hầu hết không muốn đăng vì nhiều lý do khác nhau. Tôi mong các bạn hãy tiếp tay phổ biến bài viết này trong khả năng của các bạn để giải quyết bế tắc này.
Sự Im Lặng Khó Hiểu
Sau bài cậy đăng không trả tiền số 8 cho tới ngày hôm nay vẫn chưa có một đoàn thể nào lên tiếng về hiểm họa Tỷ Phú Hoàng Kiều đang đe dọa tương lai của cộng đồng người Việt tại Little Saigon. Đây là một sự im lặng thật khó hiểu.
Phía ông Hoàng Kiều và những người tiếp tay với ông ta vẫn cứ vun vít tuyên bố đủ thứ điều như không có một giới hạn nào về nhân cách, uy tín, danh dự hay thực tế trước mặt. Họ tuyên bố rằng họ đã thâu góp được hơn chữ ký cần thiết, nhưng vẫn muốn đạt được 70%, hay ngay cả 100%, 16,000, 20,000 hay cả 30,000 thay vì chỉ cần gần 9,000 chữ ký. Bất cứ con số hay tỉ lệ nào chỉ có thể tin được qua tiến trình xác nhận của Phòng Ghi Danh Bầu Cử Quận Cam trong vòng hơn một tháng nữa.

Những tuyên bố bừa bãi này cũng giống như phương thức họ thâu thập chữ ký. Gặp ai đi chợ cũng xin chữ ký. Đến từng nhà để xin chữ ký. Dùng bất cứ lý do hay hình thức nào miễn sao lấy được chữ ký. Có nhiều tiền thì hầu như muốn làm gì cũng được. Chỉ cần một hộp cơm có mùi vị tôm hùm hay một vé xem văn nghệ miễn phí thì cũng có thể điều khiển được cả ngàn người vỗ tay, tung hô hay nhắm mắt làm ngơ theo yêu cầu.
Những lời đe dọa kiện tụng một cách vu vơ hay vô lý hay sợ bị đem tên ra chửi bởi ông Tỷ Phú thiếu mọi thứ ngoại trừ tiền bạc này có vẻ cũng có tác dụng. Ông nhà giàu này ngay giữa lòng khu Little Saigon, trên các phương tiện truyền thông và truyền hình với đầy đủ những hình tượng và hành động khiêu khích cộng đồng ngay vào cốt lõi của chính nghĩa chống cộng của cộng đồng. Cứ nhìn hình ảnh ông ta khoác áo đỏ, gắn thêm 6 ngôi sao vàng kèm với quần vàng ngồi trễm trệ trong một đài truyền hình để được phỏng vấn và khoe khoang những biểu tượng đó thì đủ hiểu mức độ táo tợn của ông tỷ phú này. Các cá nhân và đoàn thể vẫn tự xưng là “nhà vô địch” chống cộng lại đang sợ “địch vô nhà,” nói theo câu chuyện hài hước Linh Mục Nguyễn Văn Khải vẫn thường kể lại để ám chỉ nhà nước CSVN đối với hiểm họa Trung Cộng.
Cộng đồng không thể trông mong vào các nhân vật lãnh đạo cộng đồng vì chính ông Chủ Tịch Cộng Đồng và Nghị Viên Phát Bùi đã công khai ủng hộ quan điểm và lập trường chống cộng của ông Hoàng Kiều và cho rằng cộng đồng đã hiểu lầm ông ta khi ông Tỷ Phú này tuyên bố rằng chống cộng làm gì nữa vì khi xưa có hàng triệu quân cựu trong lực lượng chiến sĩ VNCH và hàng trăm ngàn lính đồng minh mà không làm được gì mà ngày nay nói chi đến chống cộng. Các lực lượng chuyên môn chống cộng hay biểu tình trong cộng đồng thì coi như đã buôn suôi và giữ im lặng.
Sự Kiên Cường của Cư Dân tại Westminster
Trong sự im lặng giữa một trận chiến quyết tử này, chỉ có những cư dân từ Thành Phố Westminster đã chứng tỏ sự quyết tâm và lòng dũng cảm hơn ai hết. Họ phải đương đầu với đủ mọi loại người không rõ xuất xứ và với nhiều lý do khác nhau để xin chữ ký của họ. Đa số những cư dân này đều không có khoa bảng, học vị, phương tiện lên tiếng, đoàn thể, chức vụ và dĩ nhiên là phương tiện truyền thông, đã tay không đáp trả và đối phó với những loại người này bằng mọi phương tiện và khả năng họ có trên người của họ. Họ chưởi bới, đóng cửa, đuổi đi và xử dụng ngay cả bằng tiếng Việt và biết rõ những người xin chữ ký để kiếm tiền chả hiểu họ nói gì. Trong nhiều trường hợp họ còn viết thư nguệch ngoạc với lời lẽ văn chương rất bình dân, như xử dụng phong bì có đề sẵn địa chỉ và tem thư dán sẵn bởi ông Tỷ Phú Hoàng Kiều chỉ để tỏ bày những tâm tư đơn giản của họ.
Sự kiên cường này vẫn tiếp tục trong khi một số các khoa bảng, tai to mặt lớn, đoàn thể có máu mặt hay các cơ quan truyền thông vẫn cứ tiếp tục hoặc giữ im lặng, hoặc nhận tiền của ông Tỷ Phú Hoàng Kiều để thi hành sứ mạng triệt tiêu cộng đồng của ông ta.

Những Thực Tế Trước Mặt
Ông Tỷ Phú Hoàng Kiều rồi sẽ nộp số chữ ký thâu thập được để kiểm nhận. Cho dầu là số lượng chữ ký có bao nhiêu đi nữa, Phòng Ghi Danh Bầu Cử (PGDBC) sẽ phải kiểm nhận từng chữ ký để xác nhận xem nhóm vận động có xin đủ gần 9,000 chữ ký cho mỗi vị dân cử đang bị bãi nhiệm hay không. Thủ tục này có thể kéo dài đến 45 ngày.

PGDBC sẽ cùng lúc kiểm nhận hơn 1,000 chữ ký của những cư dân đã ký vào mẫu chữ ký bãi nhiệm vì nhiều lý do khác nhau nhưng nay đã đổi ý và ký vào mẫu đơn xin rút lại chữ ký đó do Ban Vận Động Chống Bãi Nhiệm (BVDCBN) đã thâu thập được trong thời gian qua. Số chữ ký này có tỉ lệ chính xác hơn số chữ ký thâu được bởi ông Hoàng Kiều vì đây là những cư dân nhìn nhận đã ký lầm vì nhiều lý do khác nhau và nay muốn đổi ý hay rút lại chữ ký đã ký trước đó.
Thêm vào đó, BVDCBN đã thâu thậu nhiều bản lời khai hữu thệ của những nạn nhân đã bị lừa gạt ký tên vào mẫu giấy bãi nhiệm vì nhiều hoàn cảnh khác nhau và đệ trình lên các cơ quan có thẩm quyền để tiến hành điều tra hình sự. Nhiều hành động gian dối lộ liễu như treo bảng hiệu ký tên xin giảm tiền nhà, cho quà cáp nếu ký tên bãi nhiệm hay dùng những lý do lấp liếm để lấy chữ ký, tất cả đều phạm luật bầu cử đối với tiến trình bãi nhiệm.
Nếu xác nhận là các trường hợp gian lận đã xảy ra, những người thâu chữ ký gian lận này có thể bị truy tố hình sự và đương nhiên những ai điều khiển hay trả tiền cho những người này có thể bị liên lụy nghiêm trọng hơn. Tiến trình này sẽ mất nhiều thời gian và chắc chắn không có kết quả cho đến sau khi kết thúc tiến trình vận động bãi nhiệm.
Cuộc Bầu Cử Bãi Nhiệm
Sau khi có kết quả kiểm nhận số chữ ký cần thiết, nếu không có đủ số chữ cần thiết cho mỗi vị dân cử, cuộc vận động bãi nhiệm coi như chấm dứt. Nếu có đủ số chữ ký hợp lệ, Hội Đồng Thành Phố sẽ nhóm họp để quyết định một ngày bầu cử trong vòng 88 và 125 ngày sau đó.

Trong cuộc bầu cử này, tất cả cử tri trong TP Westminster sẽ phải quyết định nhiều sự lựa chọn khác nhau như (1) đồng ý hay không bãi nhiệm từng vị dân cử, và (2) ai sẽ được chọn thay thế vị dân cử này nếu bị bãi nhiệm. Như vậy mỗi cử tri sẽ có tối thiểu sáu sự lựa chọn và có thể lên đến hơn 10 sự lựa chọn vì chưa biết được bao nhiêu người sẽ ra tranh cử chức vụ thị trưởng và hai chức vụ nghị viên. Chắc chắn sẽ có nhiều người lợi dụng cơ hội này để thử vận may vào một chức vụ lãnh đạo thành phố.
Nếu cuộc vận động bầu cử này xảy ra, cộng đồng sẽ phải hứng chịu nhiều cuộc vận động trái ngược nhau và đến từ nhiều phía và nhiều thành phần. Đương nhiên là hai phía vận động yêu cầu và chống bãi nhiệm đối với mỗi vị dân cử. Thêm vào đó, nhiều ứng cử viên cũng vận động tranh cử cho mình và chống lại nhiều người khác. Vì chưa biết được có bao nhiêu ứng cử viên gốc Việt hay không gốc Việt sẽ ra tranh cử và cuộc đối đầu giữa cộng đồng Việt Nam và các cộng đồng khác với nhiều ứng cử viên từ nhiều phía sẽ rất là phức tạp.
Tuy nhiên cuộc vận động bầy nhầy này có thể không xảy ra nếu ban vận động bãi nhiệm không thâu thập đủ số chữ ký trong thời gian qua.

Cộng Đồng Có Thể Làm Gì?
Trong hoàn cảnh rối ren hiện nay, cộng đồng vẫn còn nhiều chuyện cần phải làm để đối phó với vấn đề trước mặt.
Thứ nhất, các cư dân tại Westminster nếu đã ký tên vào đơn xin bãi nhiệm vẫn có thể ký tên vào mẫu đơn xin rút lại chữ ký đó. Nỗ lực này cần được tiến hành ngay bây giờ và trong vòng 30 ngày sắp tới. Quí vị có thể liên lạc với văn phòng luật sư của tôi ở số điện thoại (714) 891-1901 để biết thêm chi tiết.
Thứ hai, các cá nhân hay đoàn thể trong cộng đồng vẫn có thể lên tiếng chống lại hiểm hoạ của ông Tỷ Phú Hoàng Kiều trong mọi khả năng và phương tiện sẵn có của mình. Cho dầu tiến trình bầu cử bãi nhiệm sẽ diễn ra như thế nào trong thời gian sắp tới, sự lên tiếng chống đối này vẫn rất cần thiết.
Thứ ba, cộng đồng nên phát động chiến dịch ghi danh bầu cử để chuẩn bị cho nhiều cuộc bầu cử sắp tới, nhất là cuộc bầu cử sơ bộ vào tháng 3 năm 2020 và cuộc bầu cử tổng quát vào tháng 11 sau đó. Cho dầu cuộc bầu cử bãi nhiệm này có tiến hành hay không, nhiều thành phần khác sẽ đẩy mạnh việc tấn công vào sức mạnh chính trị của cộng đồng và lợi dụng vào sự chia rẻ, phân hóa và yếu đi do cuộc vận động bãi nhiệm hiện nay.

Cộng Đồng Sau Hiểm Họa Hoàng Kiều
Cộng đồng Việt Nam có nhiều công tác hàn gắn và gây dựng lại sức mạnh chính trị của mình sau cuộc tương tàn như hiện nay và trong thời gian sắp tới. Chính nghĩa, sự thật và sức mạnh của cộng đồng sẽ chiến thắng sau cùng, nhưng không tránh khỏi những chia rẽ hay tương tàn do chính mình gây ra.
Ông Tỷ Phú Hoàng Kiều đến rồi sẽ đi và mang theo số tiền chưa dùng hết của ông. Chỉ có các thành phần trong cộng đồng vẫn còn lại làm việc và đối diện với nhau sau đó. Sau khi mọi chuyện đã ngã ngũ và ổn định, mọi người trong cộng đồng rồi sẽ phải tự trả lời câu hỏi, anh hay chị đã làm gì khi hiểm họa Tỷ Phú Hoàng Kiều đang bao trùm lên cộng đồng? Sự im lặng lúc đó sẽ không phải là câu trả lời.

Luật Sư Nguyễn Quốc Lân

Thầy Trí Quang - Một trang lịch sử


GNO - Được sự đồng ý của tác giả - Giáo sư Cao Huy Thuần, Báo Giác Ngộ trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả bài viết sau đây, về Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang.

maxresdefault.jpg
Giáo sư Cao Huy Thuần
(Thầy tôi, Trưởng lão Hòa Thượng Thích Trí Quang, vừa thị tịch hôm qua, 8-11-2019. Di huấn để lại: không bàn thờ, không bát nhang, không báo tang, không phúng điếu, không vòng hoa, không đưa đám. Tôi chỉ xin phép Thầy thắp một nén nhang tưởng niệm)
Tôi có hai lần khai sinh. Lần thứ nhất khi tôi sinh ra. Cha mẹ tôi cho tôi hình hài, máu huyết. Nhưng tôi chưa biết tôi là ai, sống như thế nào, trên đường nào tôi sẽ đi. Sinh ra, tôi có hai mắt. Nhưng chưa thấy đường đời. Phải đợi đến khi lên chùa Từ Đàm, sau ngày ông Diệm bị lật đổ, tôi mới thấy con đường sẽ đi. Thảo nào chữ nghĩa bác học gọi con đường là đạo. Thấy đạo, tôi khai sinh cho tôi.
Đầu năm 1964, một nhóm giáo chức đại học Huế họp nhau tại trường Đại học sư phạm để quyết định về việc ra một tờ báo tranh đấu tiếp nối khí thế của "cách mạng" 1963, chống lại khuynh hướng lập một "chế độ Diệm không có Diệm" được người Mỹ ủng hộ. Trong dự định ban đầu, tờ báo là tiếng nói của lực lượng giáo chức và sinh viên Huế đã tham gia vào việc lật đổ Diệm. Chuếnh choáng hơi men chiến thắng của một cuộc nổi dậy thành công, tham vọng của chúng tôi là biến đại học thành một thành trì chống độc tài. Tuổi trẻ thường có những giấc mơ phạm thượng. Buổi họp giao cho ba chúng tôi, anh Tôn Thất Hanh, anh Lê Tuyên và tôi, trách nhiệm suy nghĩ và điều khiển tờ báo. Tên của tờ báo, Lập Trường, là do chúng tôi đặt ra.
Lúc đó tôi 27 tuổi. Ít lâu sau buổi họp, tôi được mời ăn cơm với ông tướng chỉ huy Vùng I chiến thuật. Khi đó tôi mới thấy mình đang chơi một trò chơi quá so le trước gươm giáo, với một tuổi đời còn quá non và một tầm nhìn không xa hơn quyển sách. Quần chúng, tờ báo có. Nhưng dăm ba anh nhà giáo thì an ninh quân đội muốn tóm lúc nào chẳng được? Nương thế "cách mạng", chúng tôi ra báo không cần xin phép, nhưng anh sĩ quan tâm lý chiến đang ngồi ăn cơm chình ình trước mắt tôi, tôi qua mặt anh ta được chăng? Viết bài thì phải có lập trường chống Cộng hẳn hoi, anh ta khuyên nhủ thế, không chống Cộng tức là thân Cộng. Tôi viết thế nào đây? Viết thế nào khi có một bức màn sắt chia hai giữa quân đội và quần chúng, một bên biện minh rằng đảo chánh Diệm là để chống Cộng tốt hơn, một bên đòi thanh trừng vây cánh của chế độ cũ để khỏi bị độc tài đàn áp nữa? Trong tình thế đó, Lập Trường là con chuột nhắt khốn đốn dưới nanh vuốt của ba con mèo: tướng tá, người Mỹ, và dư đảng Cần Lao của ông Diệm.
Về chiến thuật, chúng tôi có thể tạm thời tìm đường sống bằng cách khai thác mâu thuẫn quyền lực giữa các tướng tá cát cứ mỗi vùng để giữ một thế đứng độc lập ở miền Trung, làm đối trọng với thủ đô Sài Gòn. Nhưng đó không phải là một cái thế trường kỳ. Cũng về chiến thuật, chúng tôi có thể nói với người Mỹ: ông chống Cộng mà không có dân thì ông chống với ai? Ông hô hào tự do mà ông không để cho dân tự định đoạt vận mệnh của mình bằng lá phiếu thì ông tự do chỗ nào? Nhưng đó là lấy lý nói với lý; trên thực tế người Mỹ đâu có làm chiến tranh vì lợi ích của dân Việt Nam? Chỉ với hai con mèo ấy thôi, chuột nhắt chúng tôi đã chưa biết tờ báo sẽ sống chết lúc nào. Nói gì con mèo thứ ba, các lực lượng tôn giáo quá khích, sinh ra và lớn lên nhờ chiến tranh. Chỉ với một lý luận này thôi, họ đã dồn chúng tôi vào chỗ bí: quốc sách đã là chống Cộng, vậy thì chỉ có chống Cộng với những lực lượng chống Cộng, không thể chống Cộng với những kẻ lừng khừng.
Chỗ dựa duy nhất của chúng tôi là quần chúng đang căm giận dư đảng của chế độ cũ. Nhưng quần chúng mà không có tổ chức thì khác nào gạch đá không có xi măng? Sự thế hiển nhiên thúc đẩy chúng tôi đi tìm xi măng. Nghĩa là lên chùa Từ Đàm! Chứ đâu nữa? Từ Đàm chẳng phải là nơi đã khởi đầu và tạo nội dung, hình hài, ngọn lửa cho cuộc tranh đấu hay sao? Tôi phải kể rõ ngọn ngành như vậy để giải thích tại sao một tờ báo bắt nguồn từ đại học lại trở thành một tờ báo được xem như tiếng nói bán chính thức của Từ Đàm, nghĩa là của Phật giáo.
Chùa không làm chính trị: thái độ đó của Phật giáo chắc như đinh đóng cột. Lý tưởng của bọn trẻ chúng tôi cũng vậy, trùng hợp với chùa như bản chính với bản sao, có ông trời đóng dấu. Hồi đó, Sartre là ông thần triết lý của thời đại chúng tôi, và vở kịch "Les mains sales" của ông làm chúng tôi mê tít: chính trị là lĩnh vực của "những bàn tay bẩn" mà chúng tôi ghê tởm. Chúng tôi đang say men tranh đấu, chưa thừa hưởng được bả rượu chính trị của các bậc trưởng thượng. Lên chùa Từ Đàm với tâm hồn phơi phới giống như đi tìm lại thời gian chưa mất, nói phỏng theo văn chương của Proust. Một lần nữa, tôi kể rõ ngọn ngành như vậy để trả lại cho César cái gì của César: tờ Lập Trường không phải là do chùa Từ Đàm lập ra, không phải là công cụ chính trị của Thầy tôi.
Thầy tôi, Trí Quang, ngồi trong phòng khách, nhìn ra sân khi chúng tôi đến. Thầy chào bằng một nụ cười, trên miệng và trên mắt. Hai mắt là cái hồn trên mặt Thầy. Mắt Thầy sáng quắc, dữ. Sau 1963, quần chúng thần tượng hóa lãnh tụ, kháo nhau "mắt Thầy có điện". Cặp mắt ấy quyến rũ tôi ngay từ phút đầu, không phải vì "có điện" mà vì nó trở nên hiền hòa ngay khi Thầy cười. Hai con mắt Thầy cùng cười với miệng, cái dữ biến đi đâu mất. Với cái hồn hiền hòa ấy trên mắt Thầy, tôi quên tuốt đã nói chuyện gì buổi chiều hôm đó, hình như chẳng có chuyện gì quan trọng, hình như cũng chẳng đề cập đến cả tờ báo, hình như giữa bản sao với bản chính có chuyện gì nữa đâu mà nói với ông trời. Thế mà, khi từ giã Thầy, chúng tôi có cảm tưởng như mình đã là chiếc đũa trong một bó, muốn bẻ gãy cũng không dễ. Tờ báo ra đời sau đó. In ở nhà in đại học và trong sự chờ đợi nóng hổi của quần chúng, in bao nhiêu cũng không đủ bán, bán cũng không nghĩ đến chuyện thu tiền. Đó là giấy khai sinh thứ hai của tôi.
Tờ báo ra đời trong bối cảnh "cách mạng" 1963 bị phản bội. Lý lẽ của chiến tranh buộc người Mỹ ủng hộ tích cực những lực lượng chủ trương chiến tranh; những lực lượng này, được thể, quay lại trả thù những người đã tham gia lật đổ chế độ cũ. Diệm đổ, nhưng chính quyền Diệm vẫn còn y nguyên từ trung ương đến xã thôn, với bộ máy đàn áp không suy suyển. Chiến tranh cho phép họ trả thù với một lý lẽ sơ đẳng và đui mù như bom đạn: chúng nó là cộng sản, chúng nó tiếp tay cho cộng sản, cộng sản mạnh lên là vì chúng nó. Chiến tranh còn cho phép họ trả thù những người cầm đầu phong trào một cách "hợp pháp" trâng tráo: tóm chúng nó đi lính là xong! Ai muốn hiểu những diễn biến chính trị trong những năm 1964-66 chỉ cần suy nghĩ trên sự đối đầu giữa hai tranh chấp về thừa kế: thừa kế Diệm hay thừa kế phong trào lật đổ Diệm. Thừa kế Diệm tức là tiếp tục chiến tranh và dựa trên chiến tranh để nắm quyền. Thừa kế 1963 là đòi tuyển cử để lập một chế độ mới. Khí giới của phe kia là bom đạn. Khí giới của phe này là lá phiếu. Có một lúc, người Mỹ cũng bị phanh thây: họ thừa biết bom đạn không giải quyết được tất cả, làm chiến tranh mà không có dân thì khác nào lùa dân qua phía cộng sản. Nhưng, như một ngạn ngữ của họ đã nói, rốt cuộc "chim cùng lông thì cùng bay với nhau".
Thế nhưng, oái oăm của thời cuộc, dân chúng cũng không phải là con số không, dù là trước mắt tướng tá. Lồng trong chiến tranh còn có một bối cảnh khác cũng lao xao binh khí: tranh giành quyền lực giữa các ông tướng chỉ huy các vùng chiến thuật. Giữa họ với nhau, đảo chánh lật nhau không khó; giữ thế đứng của mình trong vùng cát cứ khó hơn, mà muốn thế phải dựa vào dân, trước hết là mấy ông "nhân sĩ" được dân nghe. Chúng tôi, ở miền Trung, có cái thế đó để đối đầu với các ông tướng ở Sài Gòn và đòi họ "cách mạng". Trong bối cảnh ấy, Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc (HĐNDCQ) ra đời tại Huế năm 1964. Do tờ Lập Trường chủ xướng, hành động này là để bảo vệ thành quả của 1963, chống lại một cuộc đảo chánh ở trung ương của phe tướng tá thân chế độ cũ. Tổ chức này cũng vậy, không do Thầy tôi đẻ ra; lúc ấy Thầy đang ở Sài Gòn. Ai học lịch sử cách mạng Pháp đều biết Comité de Salut public. Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc là dịch nguyên văn tổ chức của Robespierre. Trong đầu bọn trẻ trí thức nửa mùa chúng tôi hồi đó, 1963 như được ủ hơi men của cách mạng 1789 thần thoại.
Ra đời chưa kịp khóc ba tiếng, các tỉnh ở miền Trung đã tức tốc đẻ theo, cùng một khuôn, một mặt, các HĐNDCQ địa phương. Tự động đẻ. Chẳng do chỉ thị một ai. Rồi cũng tự động, các HĐNDCQ khắp miền Trung kéo nhau về Huế để thống nhất đường lối. Tranh đấu trở thành chính trị. Mà toàn là tự động! Ký giả ngoại quốc bắt đầu kéo nhau đến Huế, tưởng như sắp chứng kiến một màn thay bậc đổi ngôi. Người Mỹ lân la dọ ý chúng tôi về tướng Thi, tư lệnh Vùng I, tưởng như HĐNDCQ sắp sửa làm bàn đạp cho một người hùng mới. Miền Trung bỗng nhiên trở thành trung tâm chính trị mà Huế là đầu não một cách tự phát, tự phất. Quần chúng hưởng ứng nhiệt liệt, chẳng cần biết lãnh tụ của HĐNDCM là Bác sĩ Quyến hay là ai. Mơ hồ, họ chỉ thấy ai đó "đằng sau" tờ Lập Trường, nghĩa là Thầy tôi.
Họ thấy như vậy cũng không phải là vô căn cứ. Không có Thầy, sao lại có một "Thư về Huế" của Thầy đăng trong Lập Trường, ngày 23-5-1964? Thầy viết: "Tiếng "thầy" được kêu lên trong khi chết chóc, trong cơn điên loạn, trong những ngày Từ Đàm bị bao vây và tấn công như một chiến khu, tiếng "thầy" được gọi lên trong nước mắt và máu, tiếng "thầy" đó, tôi biết Phật tử Huế đã dành cho tôi". Giữa lãnh tụ và quần chúng, mấy ai có được sự gắn bó thiết tha như vậy. Chừng đó thôi, mấy lời tình cảm huyết lệ ấy đủ để quần chúng biết Thầy ở đâu mà đứng theo Thầy. Từ tờ Lập Trường cho đến HĐNDCQ, tôi lặp lại, trí thức ở Huế không phải là công cụ của Thầy, Thầy không nhúng tay vào bất cứ hành động nào của họ, nhưng không có Thầy thì họ không phải là họ, được dân thương đến thế. Ai muốn hiểu Thầy tôi thì hãy hiểu Thầy qua ngọn lửa Quảng Đức, đừng lầm Thầy như một chính trị gia, vị thế đó thấp kém lắm, không xứng đáng với Thầy. Tự gánh trên vai trách nhiệm về ngọn lửa Quảng Đức, Thầy không thể cho phép thời cuộc phản bội lại ngọn lửa đó, chỉ thế thôi.
*
Thich-Tri-Quang-Life.jpg
"Có lúc Thầy được đội cả hai cái mũ một lần. Lẳng lặng, Thầy nói với người thân: "Càng nhiều mũ càng tỏ ra thật không có mũ nào..."
Nhưng thời cuộc không phải lúc nào cũng chiều Thầy. Miền Trung, trở thành một trung tâm chính trị, sẽ đưa Thầy vào một thế khó xử, khi tranh chấp giữa địa phương với trung ương leo thang đến mức ly khai. Ly khai? Sao nghe được! Nhưng bỏ quần chúng nửa đường, sao đành! Thầy như một sĩ quan chỉ huy một chiến hạm bị địch bắn đắm, danh dự phải giữ là chịu đắm theo tàu. Đây là nguồn cơn của biến động miền Trung năm 1966. Một biến động đè nặng trong lòng Thầy, khó nguôi.
Bối cảnh của 1966 là chiến tranh lan rộng, tiến gần thành phố, ban đêm đại bác đã dội về tận Sài Gòn, làm rung cửa sổ. Từ chống chiến tranh, Phật giáo đứng lên đòi hòa bình, theo đề nghị của Thầy. Tiếng nói đó làm phiền cả hai bên, nhưng trực tiếp và sát cạnh là người Mỹ. Đòi cách mạng, họ còn nhịn. Đòi hòa bình, họ nổi khùng. Làm sao vượt qua chống đối của họ bằng chính triết lý căn bản của họ? Thầy đòi bầu cử Quốc hội lập hiến. Trong khí thế sôi động ở miền Trung, Thầy nghĩ ảnh hưởng sẽ lan vào Sài Gòn và bầu cử sẽ bất lợi cho những ai chủ trương chiến tranh. Mà thật vậy! Không riêng gì miền Trung, toàn thể các tỉnh đến tận Sài Gòn, mọi tầng lớp dân chúng, chỉ trừ những lực lượng tôn giáo sống chết với chiến tranh, nhiệt liệt ủng hộ chủ trương bầu cử để thay thế chế độ tướng tá bằng một chính phủ dân sự. Dân chúng biểu tình ở Sài Gòn, chiếm cả sân bay Tân Sơn Nhất, kêu gọi đình công, trương cả biểu ngữ "Yankee Go Home". Miền Trung thì khỏi nói: ngay cả quân nhân, ngay cả tướng tư lệnh, cũng sát cánh với dân thường, cảnh sát, công an sát cánh với công chức, trí thức, sinh viên, thương gia, tạo nên một phong trào đòi hỏi bầu cử. Đố một ông tướng nào tại vị ở miền Trung mà dám đi ngược lại phong trào. Đố Thiệu-Kỳ đưa được một tướng khác thay thế. Đố ông Kỳ lột chức được thị trưởng Đà Nẵng bằng cách nào khác hơn là dọa bắn vào đầu ông Mẫn. Phe quân đội chia hai: một bên là đồng minh của Thiệu-Kỳ, dựa trên những đảng phái và tôn giáo thánh chiến, sợ bầu cử sẽ có lợi cho Phật giáo; một bên là đồng minh của miền Trung, quân và dân hiếm khi một dạ một lòng như vậy. Một lòng đến nỗi tư lệnh sư đoàn I huấn luyện quân sự cho sinh viên, thanh niên, phát vũ khí cho họ để bảo vệ Huế, tiếp ứng Đà Nẵng, dọa sẽ chống lại Kỳ nếu Kỳ dùng bạo lực.
Quân và dân sát cánh tại miền Trung thì người Mỹ sát cánh với Thiệu-Kỳ trong chiến dịch đàn áp và phân hóa Phật giáo. Họ sẽ phân hóa được bằng cách lập một cánh Phật giáo đối nghịch với Thầy tôi. Nhưng trước khi đó, họ thẳng tay đàn áp phong trào cái đã, tại Sài Gòn trước, tại miền Trung sau. Phân hóa hay đàn áp, mục tiêu họ nhắm là Thầy tôi. Triệt hạ Thầy thì triệt hạ được phong trào hòa bình, đập nát được thanh thế miền Trung mà Westmoreland, mà Taylor, mà Lodge, mà Rostow xem như thành trì Phật giáo. Hơn thế nữa, triệt hạ Thầy tôi thì họ sẽ tương kế tựu kế tổ chức được một Quốc hội theo ý họ, gạt Phật giáo vĩnh viễn ra khỏi các cơ quan dân cử, leo thang chiến tranh. Súng đạn đi đầu lá phiếu.
Lấy cớ trừng phạt ly khai, ông Kỳ dồn đại quân ra Đà Nẵng, nhắm Huế. Dân chúng tự động đem bàn thờ ra ngoài đường để cản chiến xa từ Quảng Trị vào An Hòa. Trong vòng nửa giờ, các đường chính của thành phố Huế đã đầy bàn thờ Phật. Thầy nói: Thầy bị động. Trước sự đã rồi, Thầy ra lệnh chính thức. Quần chúng thỉnh Phật ra đường, hương án trang nghiêm, tụng niệm như ở trong nhà, như ở trong chùa. Kỳ điều đình với Thầy. Thầy không trả lời. Kỳ giới nghiêm, tung tiểu đoàn "Trâu Điên" xung kích, bắn, bắt, đánh, đập, uống bia cho say rồi vung chai đập đánh, đánh cả sinh viên, học sinh.
Trước đó, binh sĩ Vùng I và sinh viên "quyết tử" đã quyết ăn thua đủ với Kỳ, dàn trận bên này đèo Hải Vân, chực nổ súng. Công binh đã đặt mìn, sẵn sàng phá hủy các cầu từ Đà Nẵng ra, từ Quảng Trị vào, cắt đứt tiếp vận từ Quảng Trị. Tại Huế, đại pháo và đại liên đã được bố trí dọc theo kỳ đài, chỉa xuống bộ tư lệnh giới nghiêm đóng tại Phu Văn Lâu. Quân nhân hỏi ý Thầy. Đau xót: ông thầy tu trong Thầy không cho phép Thầy dùng bạo lực. Đưa bàn thờ ra đường là tranh đấu bất bạo động. Nổ súng là bạo động, Thầy đành bảo họ hủy mìn, dẹp súng. Nội chiến là chuyện Thầy không làm, dù hậu quả là cả quân lẫn dân Phật tử bị bắt, bị đàn áp sau đó. Thất bại, Thầy đành chịu. Nhưng bất bạo động là kim chỉ nam của Thầy. Khí giới duy nhất của Thầy là tuyệt thực. Bị bắt và giải về Sài Sòn, Thầy tuyệt thực đúng 100 ngày.
Trong biến cố 1966, một tờ báo lớn Mỹ đặt câu hỏi to tướng: Ông Trí Quang muốn gì? Muốn gì mà ông chống hết chính quyền này đến chính quyền khác? Muốn gì mà ông không biết nhân nhượng? Muốn gì mà ông đòi Quốc hội? Rồi muốn gì mà ông hết đòi Quốc hội lại chống Quốc hội? Trong bấn loạn hỏa mù của đảo chánh và chiến tranh, của ngoại thuộc và nội chiến, nếu chịu khó nhìn và hiểu thì những gì mà Thầy tôi muốn cực kỳ đơn giản, có thể tóm gọn vào trong một bức thư, "Thư về Huế" mà tôi đã nói ở trên.
Thầy tôi muốn gì năm 1964? Dân đã lật ông Diệm thì cứ tưởng là rạng đông sẽ sáng sau đêm tối âm u. Nhưng ai ngờ! "Ai ngờ sự vận động để cải thiện chính sách thực đã không đơn giản như chúng ta tưởng. Đảo chính quá dễ nhưng cách mạng quá khó. Hóa cho nên đời sống hiện tại của chúng ta và của tín ngưỡng chúng ta gần như vẫn ác mộng giống quá khứ và chưa chừng mà tiếp tục cả đến tương lai". Thầy muốn gì? Muốn cái đuôi của ông Diệm không làm khổ dân và khổ Phật giáo.
Bằng cách nào? "Nỗ lực và nỗ lực một cách liên tục để chấm cho dứt những chính sách không phù hợp với sự sinh tồn của Dân tộc và Phật giáo, phát triển Phật giáo bằng sự thực hiện của bản thân mà không bằng cách làm thương tổn các tôn giáo khác, càng nêu cao đức tính Từ bi bao nhiêu lại càng thực hiện đức tính Vô úy bấy nhiêu: đó là "ý thức Phật tử" đơn giản vô cùng nhưng khó khăn vô tận".
Đúng là khó khăn vô tận, vì Thầy thất bại năm 1966. Nhưng thế nào là "ý thức Phật tử" vào thời cuộc 1966? Là đại bác dội đêm, là chiến tranh, là phải hòa bình. Có người tưởng Thầy tôi đòi hỏi Quốc hội để chiếm đa số, để khuynh loát, để thủ diễn vai tuồng mới trên chính trường miền Nam. Họ chịu khó nhìn chính trị ở miền Nam một cách lô gích thì biết Thầy tôi muốn gì: chừng nào còn chiến tranh, chừng đó còn người Mỹ; chừng nào còn người Mỹ, chừng đó còn bộ máy quân sự phục vụ chiến tranh; chừng nào còn bộ máy quân sự phục vụ chiến tranh, chừng đó còn những thế lực ăn theo chiến tranh; chừng nào còn những thế lực ăn theo chiến tranh, chừng đó Phật giáo còn bị đè xuống, chận họng. Cách giải quyết vấn đề, đứng trên cương vị của một ông thầy tu, là tháo vất cái mắc xich đầu tiên, là chấm dứt chiến tranh! Thế là làm chính trị hay sao?
Thầy tôi mang đủ thứ tiếng. Có người nói Thầy thân Cộng. Có người nói Thầy thân Mỹ. Có lúc Thầy được đội cả hai cái mũ một lần. Lẳng lặng, Thầy nói với người thân: "Càng nhiều mũ càng tỏ ra thật không có mũ nào. Trái lại, càng nhiều mũ càng tốt: càng làm cao lên, và rõ ra, cái tư thế đặc biệt của Phật giáo. Nên Phật giáo không cần tránh mà còn cần đến cái tác dụng nghịch lý ấy".
Chính cái nghịch lý ấy làm nên Thầy. Thầy là một nghịch lý to tướng. Một ông thầy tu có tầm cỡ và sức thu hút đặc biệt của một nhà chính trị lớn, lớn nhất miền Nam lúc đó, nhưng lại từ khước cái khả năng hiếm có ấy để làm ông thầy tu. Câu hỏi mà các ký giả Mỹ đặt ra về Thầy không phải là không có căn cơ: họ bị Thầy thu hút như một tài năng chính trị, nên họ không thể tưởng tượng Thầy thật không muốn làm chính trị. Họ lầm.
Bây giờ thì chắc người ta hiểu Thầy hơn. Thời thế bắt buộc Thầy phải xông trận, như một người lãnh đạo. Nhưng đó là cái thế bất đắc dĩ của một ông thầy tu cỡ lớn, quá lớn để từ khước một trách nhiệm đặc biệt mà lịch sử bất thần đặt lên vai. Nhưng Thầy không bị lịch sử lừa phỉnh để đi vào con đường khác với con đường của ông thầy tu. Cái vui thú của Thầy là lúc Thầy được xa cái chợ chính trị để làm cái việc của ông thầy tu là dịch kinh, giảng kinh. Trăm ngày tuyệt thực, đó là lúc Thầy vui. Vì Thầy làm được cái việc Thầy muốn: viết được hai bản thảo "Nghiên cứu Khởi tín luận" và "Khảo luận Tây du bằng Duy thức học". Ông thầy tu tuyệt thực như thế nào, với tâm trạng gì? Thầy nói: "Có hai việc mà tuyệt thực tuyệt đối phải có. Một là phải có một tâm thức thanh thản, không buồn, không giận, không cầu hồ gì. Không cầu chết cũng không sợ chết, tiếp cận hoàn toàn với đức hỷ xả của Phật. Hai là tuyệt đối không ăn, dĩ nhiên, cũng không uống, không chích bất cứ thứ gì". Thân thì không ăn uống, tâm thì hỷ xả. Ấy là ông chính trị gia hay ông thầy tu?
Thầy tôi có thắng có bại trong hành động, như bất cứ ai hành động. Nhưng thắng, Thầy dành cho người khác hưởng; bại, Thầy nhận một mình. Thắng hay bại, Thầy đều cô đơn. Suốt đời, Thầy cô đơn. Sau mỗi tranh đấu thắng lợi, bao giờ cũng có lắm anh chính khách xun xoe sau lưng các lãnh tụ. Ai tranh đấu bên cạnh Thầy chỉ hưởng cơm hẩm nước rau. Suốt đời, Thầy không nhân nhượng với cái gian, cái ác, cái xảo quyệt, cái ma lanh ma lẹ của bán buôn chính trị. Về riêng Thầy, có lần tôi nghe Thầy nói một câu bâng quơ: nước trong quá thì không có cá. Có gì để nhậu nhẹt trong cái am của Thầy đâu! Ai chơi hoa, cắm hoa đều biết: dù hoa thanh khiết đến bao nhiêu đi nữa, sau ba ngày thì nước trong bình bắt đầu hôi. Có kẻ chỉ thấy hoa đẹp, không thấy nước hôi. Thầy thấy nước hôi, không dùng hoa đó để cúng Phật. Tôi học được ở Thầy cái nhìn đó để không sợ cô đơn trong cuộc đời. Và trong sự thật.
*
On TQ 2.jpg
"Sự thực, Thầy tôi muốn cao hơn thế: Thầy muốn làm ông thầy tu".
Thầy sống cô đơn như vậy từ sau 1975 đến nay, không màng thế sự, khen chê, không thanh minh, không tiếp khách. Thầy sống như Thầy đã tuyệt thực, thanh thản dịch kinh. Thầy sống như để trả lời câu hỏi về Thầy ngày trước: Thầy chỉ là một ông thầy tu không hơn không kém, bây giờ cũng như bao giờ. Có điều là ông thầy tu này có cặp mắt sáng quắc, dữ thì thật dữ mà hiền thì thật hiền, khi dữ thì Vô úy, khi hiền thì Từ bi, hai chữ đỏ như son trong Lập Trường ngày trước. Tôi không biết nên nói gì với tuổi trẻ ngày nay ngoài hai chữ mà tôi đã học được ngày xưa.
Vô úy, ai cũng đã thấy nơi Thầy. Không sợ! Còn Từ bi? Từ bi không phải chỉ là lòng thương. Phải là lòng thương nào có thể vừa cho vui vừa cứu khổ. Điều này, Phật tử ai cũng rõ. Nhưng ít ai biết tại sao phải từ bi như là một định luật. Thầy giảng: tại vì sống là tương quan, không ai có thể sống một mình, cho nên sống là phải giúp nhau, cho vui và cứu khổ lẫn nhau. Lòng từ bi đó tạo cho mình cái nhìn bình đẳng: thấy tất cả đều khổ, do đó mình phải cho vui và cứu khổ hết thảy.
Thầy giảng, tôi hiểu suốt. Và tôi biết đó là lý tưởng của Thầy, Thầy sống như vậy. Nhưng thắc mắc của tôi là ông thầy tu của tôi từ bi như thế nào trong những hành động mà dù muốn dù không cũng mang tính chính trị? Tôi đọc Thầy: "Cứu cánh của từ bi là thấy người với mình là một, thân người tức thân ta… Do từ bi, mình tự đưa mình ra chịu khổ cho người. Xem tất cả như con một, thấy thân người như thân mình, thì còn có gì mà không làm nổi?"
Thầy tôi rất Thầy tôi ở mấy chữ "còn có gì mà không làm nổi". Người ta nể Thầy, sợ Thầy, phe nào cũng sợ Thầy là vì ở Thầy toát ra mấy chữ ấy. Nhưng cái gì nơi người ta sợ Thầy? Cái gì sợ từ bi? Cái ác! "Nhất là vào thời đại này - Thầy viết - thời đại mà về mặt tâm lý ta có thể thấy rõ rệt khắp đây đó hiện thân của lòng tàn ác. Tàn ác, như một ngọn lửa tỏa khói đen nghịt và cao ngất, phủ bọc lấy loài người đau khổ. Mà chống lại lòng tàn ác thì chỉ có lòng từ bi".
Phải đọc thêm một câu nữa để thấy văn tức là người, giọng văn của Thầy thế nào thì Thầy sắc như thế ấy, hiện thân ra như thế ấy trước mắt đối phương, nghĩa là cái ác: "Bởi vậy, kẻ nào mỉa mai rằng thời đại này mà còn nói đến chuyện từ bi, thì kẻ ấy chính là kẻ đang tàn ác. Kẻ nào trực tiếp hay gián tiếp làm tổn thương đến uy lực của từ bi là kẻ tội ác của nhân loại, kẻ gieo thảm họa cho loài người. Nếu phải thí dụ kẻ đó là kẻ ma quân thì ma quân ấy chỉ khiếp sợ mỗi một tâm lý độc nhất, tâm lý từ bi mà thôi".
Tôi gặp Thầy tôi khi lịch sử Phật giáo và lịch sử chính trị miền Nam mở đầu một giai đoạn mới với ngọn lửa Quảng Đức. Lịch sử đã chọn Thầy tôi làm kẻ đứng mũi chịu sào trong giai đoạn đó vì lịch sử biết Thầy chống cái ác như thế nào với một tâm lý gì. Bốn phương tám hướng đều thấy: ngọn lửa Quảng Đức là ngọn lửa từ bi. Riêng tôi, ở trong tầm mức thấp bé của một người thường, tôi thấy ngọn lửa đó tiếp tục cháy trong mấy câu hoài niệm Thầy viết cho Lập Trường nhân ngày giỗ đầu của 7 em bé bị đạn của lính ông Diệm bắn chết trước đài phát thanh Huế đêm Phật Đản 1963: "Tôi, cho đến bây giờ, vẫn không sao nguôi ngoai được tâm trạng của một người nhìn thấy đống xương thịt máu huyết bị hất vào một góc tường, xương thịt máu huyết của những kẻ thân yêu mới cười nói với mình trước đó không quá 10 phút! Biết bao giờ, hay sẽ không bao giờ, con người bớt tàn bạo, biết xấu hổ vì tội ác của mình, để con người đừng kinh hãi vì con người".
Thầy tôi đi vào lịch sử chỉ vì thế: chỉ vì Thầy tự đưa thân ra gánh lấy cái khổ của quần chúng Phật tử, chỉ vì trong xương máu của Thầy có xương máu của 7 em bé trắng trong chết vì cái ác, chỉ vì Thầy lấy cái ác làm kẻ đồng hành khiêu khích không ngừng.
Về Thầy, tôi nghĩ chỉ có chuyện ấy là đáng nói. Còn tất cả chỉ là một nhầm lẫn to tướng không cần cải chính, bình luận: người ta tưởng nhầm Thầy muốn làm Richelieu, hồng y, thủ tướng của vua Louis XIII nước Pháp. Sự thực, Thầy tôi muốn cao hơn thế: Thầy muốn làm ông thầy tu.
Commnts:

Gạt qua tranh cãi về chính trị, thì cái chết như vậy là viên mãn. Đúng chuẩn mực tu hành, không rình rang, xứng đáng với hai chữ BẦN TĂNG.

Di huấn Hòa Thượng Thích Trí Quang cho thấy Ngài mất đi thì lên thẳng Phật quốc nên không cần lập bản thờ, không bát nhan vvv